open

Trào lưu hội nhập kinh tế quốc tế trên thế giới và hệ lụy đối với Việt Nam Email
Thứ năm, 17 / 11 / 2011

Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại đang là xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại. Thế giới đã và đang chứng kiến sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và sinh học, làm tăng nhanh lực lượng sản xuất và tạo ra sự thay đổi sâu sắc cơ cấu sản xuất, phân phối, tiêu dùng, thúc đẩy quá trình quốc tế hóa, xã hội hóa nền kinh tế, cũng như quá trình tham gia của mỗi quốc gia vào phân công lao động và hợp tác quốc tế. Việt Nam chúng ta cũng không nằm ngoài xu thế chung đó.

Nguồn ảnh: Internet

Chặng đường đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn gần 20 năm qua đã có những chuyển biến sâu sắc và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tháng 1/ 1975, Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và chính thức tham gia Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) từ 1/1/1996. Đây được coi là một bước đột phá về hành động, biến chủ trương đường lối đối ngoại của Đảng ta từ trước đến nay thành hành động thực tế. Với việc gia nhập ASEAN, Việt Nam đã chấm dứt một thời kỳ dài khu vực Đông Nam Á bị chia rẽ thành hai nhóm đối lập nhau và đồng thời đã tạo điều kiện để tham gia và nâng cao hình ảnh của mình trong cộng đồng khu vực, mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế sang các nước này. Tiếp đó, Việt Nam tham gia sáng lập Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM) năm 1996, được kết nạp vào Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) tháng 11/1998. Tháng 1/2007, Việt Nam đã chính thức là thành viên thứ 150 của một định chế thương mại mang tính ràng buộc đa phương bao trùm toàn cầu là Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Với những bước đi ban đầu đó, Việt Nam đã tạo dựng được môi trường quốc tế, khu vực thuận lợi cho công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển kinh tế, nâng cao vị thế nước ta trên chính trường và thương trường thế giới. Tuy nhiên, thực tiễn hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực của Việt Nam đòi hỏi phải nắm bắt được những xu hướng, diễn biến chính trong hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế để có thể chủ động xây dựng, điều chỉnh chính sách hội nhập và phát triển kinh tế, đặt biệt là các chính sách phù hợp để thúc đẩy quan hệ của Việt Nam với một số quốc gia đối tác chính.

Hệ thống thương mại đa phương tiện dựa trên khung khổ GATT/WTO đã và đang trải qua chin vòng đàm phán với mục đích là tạo ra một hệ thống thương mại mở và tự do toàn cầu. Tuy nhiên, hệ thống thương mại đa phương này không mang tính triệt để. Cụ thể, khung khổ GATT/WTO được xây dựng trên nguyên tắc trụ cột là không phân biệt đối xử (gồm nguyên tắc tối huệ quốc và đối xử quốc gia) và đảm bảo tính minh bạch. Do những bất đồng quan điểm và mâu thuẫn lợi ích giữa các nước đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống thương mại thế giới như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Braxin…khung khổ pháp lý của GATT/WTO tồn tại nhiều điều khoản và quy định mang tính thỏa hiệp, hay đúng hơn là đặt ra nhiều ngoại lệ đối với nguyên tắc trụ cột nêu trên. Ví dụ Điều khoản XXIV/GATT cho phép hình thành các Hiệp định Thương mại Tự do khu vực và song phương (RTA/FTA) mà về bản chất là vi phạm nguyên tắc tối huệ quốc, gây ra tình trạng phân biệt đối xử với các nước không tham gia RTA/FTA nào đó.

Vấn đề ở đây không chỉ là sự tồn tại của những ngoại lệ này trong khung khổ luật pháp thương mại thế giới, mà còn là thực tiễn vận dụng các ngoại lệ này trong nền thương mại toàn cầu. Rõ ràng là nền thương mại thế giới không chỉ tiến triển theo kênh tự do hóa đa phương mà còn phát triển mạnh theo kênh tự do hóa thương mại ở cấp độ khu vực và song phương, đặc biệt là trong những thập kỷ cuối của Thế kỷ XX. Thực tế này minh chứng rằng đa số thành viên WTO đã biết vận dụng các ngoại lệ của khung khổ đa phương GATT/WTO để thúc đẩy hội nhập kinh tế thông qua tự do hóa thương mại song phương và khu vực. Động lực của quá trình hội nhập này có thể thuần túy là phúc lợi kinh tế, có thể là những vấn đề chính trị - an ninh chung, song hệ quả của nó là tình trạng phân biệt đối xử đối với các đối tác không tham gia khung khổ tự do hóa thương mại song phương hay khu vực nào đó, là tính phi hiệu quả trong phân bổ nguồn lực một khi các cam kết ưu đãi thuế quan riêng giữa hai hay một nhóm nước tạo ra các lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh không dựa trên hiệu quả kinh tế thực.

Đặc biệt, trào lưu RTA/FTA phát triển mạnh từ những năm 2000-2001, thể hiện sự nản lòng của các nước trước tiến triển chậm hcạp của đàm phán đa phương trong khuôn khổ WTO và mong muốn thúc đẩy sự ra đời của một môi trường kinh doanh tự do hơn. Theo thống kê của WTO, tính đến nay đã có trên dưới 600 hiệp định thương mại khu vực (RTA) được các nước thành viên thông báo tới GATT/WTO.

Châu Âu được coi là khu vực tập trung nhiều nhất các thoản thuận thương mại khu vực. Liên minh Châu Âu (EU) là nhóm nước tích cực triển khai các FTA song phương và khu vực nhất. Trước khi mở rộng thành EU-25, EU-15 đã ký kết tổng cộng 111 hiệp định song phương và khu vực với các nước. Sauk hi EU-15 mở rộng thêm 10 thành viên thành EU-25 vào ngày 1 tháng 5 năm 2004, số lượng các Hiệp định Thương mại Tự do trong EU đã giảm mạnh do việc kết nạp 10 thành viên mới đã tự động “làm vô hiệu” 65 hiệp định thương mại tự do giữa 10 thành viên mới với các thành viên EU-15 và giữa 10 thành viên mới với bên thứ ba trước khi kết nạp.

Khu vực Bắc Mỹ: Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) năm 1994 đánh dấu bước ngoặt trong nhận thức cũng như hành động về liên kết kinh tế khu vực của Mỹ nói riêng và tạo ra “hiệu ứng đôminô” với một loạt các quốc gia khác trên thế giới. So với EU thì Bắc Mỹ đi sau nhiều trong liên kết kinh tế và thương mại khu vực. Cách tiếp cận FTA khu vực và song phương của Mỹ được đẩy mạnh dưới thời Chính quyền Bush (2001-2004) với quan điểm “cạnh tranh trong tự do hóa thương mại”. Chỉ trong năm 2004, Mỹ đã tiến hành ký kết 9 FTA song phương với các nước và khối nước trên thế giới, cao hơn tổng số FTA Mỹ đã ký trước đó. Hiện nay, Chính phủ Mỹ đang tiến hành đàm phán ký kết FTA song phương, tiểu khu vực và khu vực với 10 nền kinh tế khác nữa. Mới đây nhất, Mỹ và Hàn Quốc đã ký FTA song phương (KORUSFTA) và đang trong quá trình chờ Quốc hội hai nước phê chuẩn.

Trong khu vực Đông Nam Á, ASEAN là một tổ chức liên kết khu vực ra đời sớm (1967) và cũng là nhóm quốc gia đầu tiên cam kết hình thành một khu vực mậu dịch tự do trên cơ sở CEPT/AFTA được ký kết năm 1992. Cho tới đầu năm 2001, AFTA vẫn là FTA duy nhất có hiệu lực pháp lý của ASEAN. Sau khi cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực nổ ra năm 1997, ASEAN đứng trước yêu cầu phải đẩy mạnh hội nhập nội khối và nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm thích ứng với môi trường kinh tế quốc tế và khu vực mới. Lãnh đạo các nước ASEAN đã thay đổi tư duy hội nhập của ASEAN cũng như tư duy tự do hóa thương mại của quốc gia mình, theo đó ASEAN đẩy sâu quá trình liên kết trong khối bằng Thỏa ước Bali (2004) với quyết tâm xây dựng một Cộng đồng ASEAN dựa trên ba trụ cột chính trị - an ninh, kinh tế và văn hóa – xã hội vào năm 2010. Bên cạnh đó, ASEAN đang thực hiện một chiến lược tăng cường liên kết thương mại – đầu tư với một số nước đối tác chủ chốt của mình thông qua một lộ trình hình thành các FTA song phương với Trung Quốc, Nhật Bản, Ôtxtrâylia và Niuzilân, Ấn Độ, EU và Hoa Kỳ và biến ASEAN thành “trung tâm” của mạng lưới các FTA theo phương thức ASEAN + 1.

Việc hình thành các FTA mang lại nhiều cơ hội và có những tác động tích cực tới các nước tham gia, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam đứng trước xu thế hình thành và phát triển mạnh của các FTA, Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc. Chính vì vậy, Việt Nam cần tăng cường tham gia các FTA trong giai đoạn tới.

Với Việt Nam, chúng ta có nguy cơ bị phân biệt đối xử và biệt lập ngay cả khi đã là thành viên chính thức của WTO nếu Việt Nam vẫn nằm ngoài các khung khổ hội nhập khu vực và song phương (RTA/FTA) chủ yếu trong hệ thống thương mại thế giới và tất nhiên không được hưởng các ưu đãi dành riêng cho một nhóm thành viên nhất định, do vậy bị phân biệt đối xử. Hệ quả là sản phảm và dịch vụ từ Việt Nam vị đánh thuế cao hơn và phải chịu các rào cản phi quan thuế tinh vi, phức tạp hơn; doanh nghiệp đầu tư tại Việt Nam thì mất sức cạnh tranh do dòng thương mại và đầu tư quốc tế bị chệch hương, chịu chi phí giao dịch cao hơn vì các đối thủ cạnh tranh được hưởng nhiều ưu đãi riêng, đặc biệt là về xuất xứ sản phẩm. Bối cảnh mới đòi hỏi cả Chính phủ, doanh nghiệp và mỗi người dân Việt Nam phải đổi mới nhận thức và đưa ra các đối sách hiệu quả, đồng thời chủ động đề ra các ưu tiên điều chỉnh chiến lược và chính sách mới, đặc biệt là chính sách hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, để dành được thành công trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như Đảng và Nhà nước đã đề ra.

Nguồn: Dự án EU-Việt Nam MUTRAP III


Tin mới hơn:

 
You must have Flash Player installed in order to see this player.

BÀI CÙNG CHUYÊN MỤC

Kinh tế Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Thứ hai, 28 / 11 / 2011 Bức tranh kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong giai đoạn 2001-2010 được định hình bởi các mốc hội nhập kinh tế quốc tế, các cú sốc bên ngoài (giá dầu tăng cao vào năm 2007 và đầu năm 2008 và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra vào cuối năm 2008 và năm 2009), và các cú sốc chính sách (gói kích cầu triển khai vào năm 1999, chính sách tiền tệ thắt chặt vào đầu năm...
Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế và các chính sách ứng phó trong thời gian tới (phần 2) Thứ hai, 12 / 12 / 2011 Một số hàm ý chính sách ứng phó Nguồn ảnh: Internet Từ các phân tích, đánh giá tác động quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam trong 10 năm qua và một số xu hướng chính sách thương mại quốc tế gần đây trong bài viết trước, bài viết này xin đưa ra một số hàm ý chính sách ứng phó sau đây:Các chính sách ứng phó trong ngắn hạn:(i) Mặc dù nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng chiếm tỷ...
Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế và các chính sách ứng phó trong thời gian tới (phần 1) Thứ năm, 08 / 12 / 2011 Thông qua chính sách Đổi mới và chủ động mở cửa nền kinh tế kể từ năm 1986, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Trong các năm tiếp sau đó, hội nhập kinh tế quốc tế thông qua các hiệp định tự do hóa thương mại ở cả ba cấp độ song phương, khu vực và đa phương đã làm cho nền kinh tế Việt Nam mở rộng không...
Trào lưu hội nhập kinh tế quốc tế trên thế giới và hệ lụy đối với Việt Nam Thứ năm, 17 / 11 / 2011 Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại đang là xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại. Thế giới đã và đang chứng kiến sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và sinh học, làm tăng nhanh lực lượng sản xuất và tạo ra sự thay đổi sâu sắc cơ cấu sản xuất, phân phối, tiêu dùng,...
Hội nhập kinh tế quốc tế và xu hướng xuất nhập khẩu của Việt Nam Thứ hai, 05 / 12 / 2011 Cùng với xu hướng cải cách kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế, quy mô hoạt động thương mại của Việt Nam ngày càng gia tăng. Xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa đã tăng khá nhanh, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Tuy nhiên, tăng trưởng xuất nhập khẩu sau 2007 do cả tăng lượng xuất nhập khẩu cũng như tăng giá trên thị trường thế giới. Nhìn chung, nhập khẩu tăng nhanh hơn...