| Kinh tế Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế |
|
| Thứ hai, 28 / 11 / 2011 |
|
Bức tranh kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong giai đoạn 2001-2010 được định hình bởi các mốc hội nhập kinh tế quốc tế, các cú sốc bên ngoài (giá dầu tăng cao vào năm 2007 và đầu năm 2008 và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra vào cuối năm 2008 và năm 2009), và các cú sốc chính sách (gói kích cầu triển khai vào năm 1999, chính sách tiền tệ thắt chặt vào đầu năm 2008, và thực hiện gọi kích thích kinh tế vào năm 2009). Do một hỗn hợp các cú sốc và mốc hội nhập tác động lên kết quả kinh tế vĩ mô (tăng trưởng, đầu tư, và thương mại), nên việc đánh giá ảnh hưởng của hội nhập kinh tế quốc tế với kinh tế vĩ mô gặp nhiều khó khăn.
Nguồn ảnh: Internet Trong giai đoạn 2001-2010, nền kinh tế Việt Nam còn chịu ảnh hưởng bởi những cú sốc bên ngoài và những cú sốc chính sách. Trước hết phải kể đến tác động của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ châu Á nổ ra tại Thái Lan năm 1997, mặc dù sự kiện nằm ngoài khoảng thời gian 2001-2010 nhưng nó để lại hậu quả vào những năm đầu của giai đoạn này. Cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ làm suy giảm tổng cầu của nền kinh tế và tốc độ tăng trưởng do đó cũng bị giảm sút. Đến năm 1999, Chính phủ thực hiện chính sách kích cầu nhằm thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, đồng thời tránh hiện tượng giảm phát diễn ra vào thời gian đó. Chính sách kích cầu triển khai tập trung chủ yếu vào chính sách tiền tệ nới lỏng và chính sách tài khóa mở rộng. Nhờ chính sách kích cầu năm 1999 cùng với sự hồi phục của nền kinh tế châu Á, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế tăng dần qua từng năm, từ 6,89% năm 2001 lên tới 7,79% năm 2004 và liên tiếp trong 3 năm liền từ 2005 – 2007, tốc độ tăng trưởng đạt hơn 8%. Năm 2007 Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Các nhà đầu tư nước ngoài lạc quan về một nền kinh tế mở cửa đầy triển vọng của nền kinh tế Việt Nam trong tương lai. Trên thực tế, nền kinh tế khi đó đang đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, dòng vốn đầu tư nước ngòai trực tiếp và gián tiếp đổ ồ ạt vào nền kinh tế góp phần đáng kể cho tốc độ tăng trưởng đạt cao vào năm 2007 và năm 2008. Tuy nhiên, đây cũng là một trong các nguyên nhân gây bất ổn vĩ mô. Dòng vốn bên ngoài đổ vào nhiều, Ngân hàng Nhà nước thực hiện mua ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối đồng thời làm tăng cung tiền trong nền kinh tế. Đáng lẽ nếu chính sách tiền tệ trung hòa hóa được triển khai thì sẽ hút lượng lớn tiền trong nền kinh tế về Ngân hàng Nhà nước và tránh rủi ro lạm phát. Nhưng Ngân hàng lại không làm thế. Một lượng lớn tiền đổ vào nền kinh tế. Tăng trưởng cung tiền trong nền kinh tế năm 2007 đạt mức cao: tổng phương tiện thanh toán M2 tăng cao cộng với giá xăng dầu trên thị trường thế giới bắt đầu chiều hướng gia tăng làm cho lạm phát năm 2007 lên mức 2 chữ số, gây bất ổn cho nền kinh tế. Trong năm 2007 tốc độ tăng trưởng thế giới cũng đạt khá và chắc chắn có tác động thuận lợi đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam. Sang những tháng đầu năm 2008, do tác động có độ trễ của cung tiền năm 2007 và giá xăng dầu đạt đỉnh trên thị trường thế giới, lạm phát trong nước cũng bắt đầu tăng vọt. Trước tình hình đó, Chính phủ đã triển khai chính sách tiền tệ thắt chặt và chính sách tài khóa thu hẹp. Chính sách tiền tệ thắt chặt làm lãi suất cho vay tăng cao, thị trường bất động sản đóng băng và thị trường chứng khoán tụt dốc. Hoạt động sản xuất trong nền kinh tế bắt đầu lâm vào tình trạng suy giảm. Trên thế giới, giá xăng dầu tăng cao cũng có tác động đến lạm phát của nhiều nước, chính sách tiền tệ thắt chặt cũng được nhiều nước triển khai. Tốc độ tăng trưởng thế giới năm 2008 giảm và do đó sẽ ảnh hưởng không tốt đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam. Vào nửa cuối năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, bắt nguồn từ Mỹ, tác động tiêu cực lên nền kinh tế trong nước và thế giới. Xuất khẩu giảm, đầu tư FDI giảm và tổng cầu của nền kinh tế nói chung suy giảm. Ngược lại, với chính sách đầu năm, Chính phủ bắt đầu đảo chiều chính sách từ chính sách tiền tệ thắt chặt và chính sách tài khóa thu hẹp sang chính sách tiền tệ nới lỏng và chính sách tài khóa mở rộng. Đầu năm 2009, gói kích thích kinh tế được Chính phủ thiết kế và triển khai. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu làm cho tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế trong 2 năm 2008 và 2009 ở mức thấp (tương ứng là 6,23% và 5,32%) nếu so với tốc độ tăng trưởng trên 8% của 3 năm trước đó (xem Đồ thị 1). Năm 2010, nền kinh tế bắt đầu hồi phục, tuy nhiên, cùng với đó tỷ lệ lạm phát gia tăng (xem Đồ thị 2). Tỷ lệ lạm phát tăng cao kết hợp từ 2 yếu tố: (i) chính sách tiền tệ nới lỏng và chính sách tài khóa mở rộng vào cuối năm 2008 và năm 2009 và (ii) giá xăng dầu và giá các nguyên nhiên vật liệu trên thị trường tăng do nền kinh tế thế giới cũng đang hồi phục cộng với giá lương thực thế giới tăng cao do thiếu cung tại nhiều nước. Trong giai đoạn 10 năm từ 2001 đến 2010, nền kinh tế được định hình và dao động bởi 3 nhân tố trộn lẫn vào nhau. Thứ nhất, cú sốc từ bên ngoài gồm có cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ châu Á năm 1997; giá xăng dầu, nguyên nhiên liệu đầu vào tăng cao vào năm 2007 và đầu năm 2008; khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra vào cuối năm 2008 và năm 2009. Các cú sốc này nói chung là tác động tiêu cực lên nền kinh tế. Hai cú sốc khủng hoảng tài chính – tiền tệ châu Á năm 1997 và khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 208-2009 làm suy giảm tổng cầu của nền kinh tế, dẫn đến hoạt động sản xuất thu hẹp và tỷ lệ lạm phát giảm. Trong khi đó, cú sốc giá vào năm 2007 và đầu năm 2008 là cú sốc mặt cung lên nền kinh tế, làm cho tốc độ tăng trưởng giảm và tỷ lệ lạm phát gia tăng (hiện tượng lạm phát đình trệ). Thứ hai, các chính sách kinh tế vĩ mô được thiết kế và triển khai nhằm phản ứng trước các cú sốc, ngoài việc hạn chế tác động của các cú sốc thì lại đưa đến những phản ứng phụ sau đó. Các hiệu ứng phụ đã có những tác động bất lợi lên nền kinh tế. Chẳng hạn các chính sách tiền tệ nới lỏng và tài khóa mở rộng đương đầu với các cú sốc mặt cầu sau đó lại dẫn đến tỷ lệ lạm phát cao vào các năm 2007 và 2010. Chính sách tiền tệ thắt chặt và tài khóa thu hẹp đương đầu với cú sốc mặt cung thì lại làm lãi suất tăng cao, tác động xấu đến nền kinh tế vĩ mô vào các tháng đầu năm 2008. Thứ ba, quá trình hội nhập thông qua các hiệp định bắt đầu được đẩy mạnh từ năm 2001; nhưng nói đúng hơn, từ năm 2006 nền kinh tế mới hội nhập sâu hơn và thực chất hơn vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu. Năm 2006, toàn bộ các mặt hàng trừ các mặt hàng trong Danh mục nông sản nhạy cảm và Danh mục loại trừ hoàn toàn phải giảm xuống mức từ 0-5% theo CEPT. Cũng bắt đầu từ năm 2006, mỗi năm một hiệp định hay một mốc hội nhập được thiết lập. Vì thế, nếu phân giai đoạn 2001-2010 theo các mức độ hội nhập, có thể phân làm hai giai đoạn: Giai đoạn 1 từ năm 2001 đến năm 2006 và giai đoạn 2 từ năm 2007 đến năm 2010. Việc phân làm 2 giai đoạn hội nhập thực sự hữu ích cho việc đánh giá tác động của hội nhập kinh tế quốc tế bằng cách so sánh các kết quả vĩ mô (như tăng trưởng, đầu tư và thương mại) giai đoạn sau so với giai đoạn trước. Sự khác biết giữa các kết quả kinh tế của hai giai đoạn này có thể đem lại những gợi mở về tác động của các sự kiện, đặc biệt là những mốc hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Tuy nhiên, phương thức này cũng có những rủi ro nhất định trong việc đánh giá tác động của các sự kiện hội nhập, vì nền kinh tế trong giai đoạn 2006-2010 chịu rất nhiều cú sốc bên ngoài, trong đó là cú sốc giá xăng dầu năm 2007 và đầu năm 2008; cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vào cuối năm 2008 và năm 2009. Nguồn: Dự án EU-Việt Nam MUTRAP III Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|
BÀI CÙNG CHUYÊN MỤC
Nguồn ảnh: Internet
Từ các phân tích, đánh giá tác động quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam trong 10 năm qua và một số xu hướng chính sách thương mại quốc tế gần đây trong bài viết trước, bài viết này xin đưa ra một số hàm ý chính sách ứng phó sau đây:Các chính sách ứng phó trong ngắn hạn:(i) Mặc dù nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng chiếm tỷ...

