| Hội nhập kinh tế quốc tế và xu hướng xuất nhập khẩu của Việt Nam |
|
| Thứ hai, 05 / 12 / 2011 |
|
Cùng với xu hướng cải cách kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế, quy mô hoạt động thương mại của Việt Nam ngày càng gia tăng. Xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa đã tăng khá nhanh, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Tuy nhiên, tăng trưởng xuất nhập khẩu sau 2007 do cả tăng lượng xuất nhập khẩu cũng như tăng giá trên thị trường thế giới. Nhìn chung, nhập khẩu tăng nhanh hơn so với xuất khẩu, khiến nhập xiêu hàng hóa có xu hướng tăng. Xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa chỉ giảm vào năm 2009 do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới và suy thoái kinh tế toàn cầu.
Nguồn ảnh: Internet Trong cơ cấu xuất khẩu theo mặt hàng, nhóm hàng có giá trị lớn nhất là hàng tiêu dùng bán lâu bền (dệt may), tiếp đó là nhóm xăng dầu sơ chế và hàng công nghiệp trung gian (đã qua chế biến). Xét theo ngành hàng ở cấp rộng hơn, hàng tiêu dùng có giá trị xuất khẩu lớn nhất, tiếp đó là trung gian và dầu thô. Tuy nhiên, tỷ trọng hàng tiêu dùng trong xuất khẩu có xu hướng giảm, trong khi tỷ trọng tương ứng của nhóm hàng trung gian và hàng hóa vốn lại tăng. Các thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam là Hoa Kỳ, Nhật Bản và ASEAN. Xuất khẩu sang Hoa Kỳ chủ yếu là hàng tiêu dùng, trong khi xuất khẩu vào các thị trường Nhật Bản và ASEAN tập trung vào nhóm hàng tiêu dùng và hàng trung gian. Trong cơ cấu hàng nhập khẩu, hàng trung gian là nhóm hàng nhập khẩu lớn nhất và cũng có tốc độ tăng nhanh nhất. Các mặt hàng khác có tỷ trọng đáng kể trong nhập khẩu là hàng hóa vốn (bao gồm cả phương tiện giao thông vận tải) và xăng dầu. Việt Nam nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc, Hàn Quốc và ASEAN. Cơ cấu hàng nhập khẩu từ các đối tác này cũng tương đồng với cơ cấu hàng nhập khẩu nói chung, tức là tập trung chủ yếu vào hàng trung gian và hàng hóa vốn. Trong những năm gần đây, gia tăng nhập khẩu hàng trung gian cũng như xuất khẩu hàng trung gian dường như đi kèm với xu hướng tăng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, đặc biệt là từ các đối tác như ASEAN và Nhật Bản. Ở một chừng mực nhất định, điều này phản ánh các doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia mạng sản xuất khu vực một cách sâu rộng hơn, với vai trò là nhà cung cấp hàng trung gian cho các doanh nghiệp khác. Hơn nữa, sự tham gia của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng trực tiếp và gián tiếp (thông qua các tác động lan tỏa) làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng tiêu dùng xuất khẩu. Các mặt hàng xuất khẩu mà Việt Nam có lợi thế so sánh thể hiện chủ yếu là các mặt hàng thâm dụng lao động và/hoặc tài nguyên thiên nhiên, các sản phẩm sơ chế. Đồng thời, Việt Nam cũng thể hiện tiềm năng xuất khẩu ở một số mặt hàng có hàm lượng chế biến cao hơn. Ngay cả với nhiều ngành hàng mà Việt Nam chưa có lợi thế so sánh vào năm 2009, khả năng cạnh tranh đã dần được cải thiện. Tỷ trọng các mặt hàng này trong xuất khẩu của Việt Nam đã tăng liên tục. Thách thức chỉ là liệu mức độ cải thiện khả năng cạnh tranh xuất khẩu đáp ứng được yêu cầu của quá trình phát triển. Việt Nam đã phần nào tận dụng được cơ hội xuất khẩu vào các thị trường chính. Chỉ riêng xuất khẩu vào EU25 và Ấn Độ là chưa tương xứng với tiềm năng. Trong khi đó, thị trường Việt Nam cũng trở nên hấp dẫn hơn với xuất khẩu từ các đối tác chính, ngoại trừ Hoa Kỳ và EU25. Đáng chú ý là lợi ích từ thương mại với Trung Quốc ngày càng giảm dần. Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam khá giống với xuất khẩu của Ấn Độ, Trung Quốc và ASEAN. Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam phần nào cũng tương đồng với Hoa Kỳ và EU25, và ít giống với Hàn Quốc và Nhật Bản. Mức độ tương đồng xuất khẩu của Việt Nam với tất cả các đối tác này đã liên tục được cải thiện. Mức độ bổ trợ của hàng xuất khẩu Việt Nam đối với nhập khẩu của hầu hết các đối tác chính (trừ Hàn Quốc) đã được cải thiện. Điều này thể hiện hàng xuất khẩu của Việt Nam đã có tính cạnh tranh cao hơn, và đáp ứng tốt hơn nhu cầu nhập khẩu ở các thị trường này. Theo chiều ngược lại, ngoại trừ Hoa Kỳ, tất cả các đối tác đều có mức độ bổ trợ thương mại tốt hơn đối với Việt Nam trong giai đoạn 2004-2009. Nhập siêu có xu hướng tăng, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Nhập siêu của Việt Nam chủ yếu là ở nhóm hàng trung gian và hàng hóa vốn (bao gồm cả phương tiện vận tải). Đáng lưu ý là nhập siêu hàng trung gian lớn hơn so với xuất siêu hàng tiêu dùng. Điều này cho thấy một phần đáng kể hàng trung gian đã được sử dụng để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước. Điều này đòi hỏi phải xem xét lại chính sách hỗ trợ phát triển đối với các ngành thay thế nhập khẩu ở Việt Nam. Xét theo cán cân thương mại của từng ngành hàng (đã chuẩn hóa), Việt Nam nhập siêu ở rất nhiều nhóm hàng. Tuy nhiên, với nhiều mặt hàng trong nhóm này, quy mô thương mại hai chiều với các nhóm này đã tăng mạnh và/hoặc Việt Nam đã có khả năng xuất khẩu các mặt hàng này. Trong khi đó, xuất siêu của Việt Nam chỉ tập trung vào một số nhóm hàng nhất định. Việt Nam chịu nhập siêu lớn nhất với Trung Quốc, tiếp đó là ASEAN và Hàn Quốc. Gia tăng nhập siêu từ ASEAN và Hàn Quốc chủ yếu là do các nhóm hàng trung gian và hàng hóa vốn, gắn với việc doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu rộng hơn vào các mạng sản xuất khu vực. Nhập siêu từ ASEAN và Hàn Quốc tăng mạnh hơn sau khi Việt Nam thực hiện mở cửa thị trường trong khung khổ FTA với các đối tác này. Gia tăng nhập siêu từ Trung Quốc cũng do các nhóm hàng trung gian và hàng hóa vốn, song vai trò của nhóm hàng hóa vốn lớn hơn nhiều. Điều này xuất phất một phần từ việc thực hiện các công trình tổng thầu của Trung Quốc tại Việt Nam. Bênh cạnh đó, gia tăng nhập siêu hàng trung gian cũng phản ánh việc doanh nghiệp Việt Nam tham gia mạng sản xuất với các doanh nghiệp Trung Quốc, song thách thức ở đây là tăng hiệu quả và giá trị gia tăng khi các đối tác Trung Quốc nhìn chung có trình độ công nghệ thấp hơn so với các đối tác Đông Á khác. Nguồn: Dự án EU-Việt Nam MUTRAP III
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|
BÀI CÙNG CHUYÊN MỤC
Nguồn ảnh: Internet
Từ các phân tích, đánh giá tác động quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam trong 10 năm qua và một số xu hướng chính sách thương mại quốc tế gần đây trong bài viết trước, bài viết này xin đưa ra một số hàm ý chính sách ứng phó sau đây:Các chính sách ứng phó trong ngắn hạn:(i) Mặc dù nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng chiếm tỷ...

