| Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế và các chính sách ứng phó trong thời gian tới (phần 1) |
|
| Thứ năm, 08 / 12 / 2011 |
|
Thông qua chính sách Đổi mới và chủ động mở cửa nền kinh tế kể từ năm 1986, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Trong các năm tiếp sau đó, hội nhập kinh tế quốc tế thông qua các hiệp định tự do hóa thương mại ở cả ba cấp độ song phương, khu vực và đa phương đã làm cho nền kinh tế Việt Nam mở rộng không gian phát triển, thêm nhiều cơ hội hơn nhưng đồng thời cũng đem đến những thách thức và rủi ro mới cho nền kinh tế trong quá trình hội nhập.
Nguồn ảnh: Internet Trong 10 năm qua, từ năm 2001 đến năm 2010, có nhiều hiệp định thương mại tự do song phương và khu vực diễn ra, đồng thời cũng trong khoảng thời gian này, một số các cú sốc trong nền kinh tế thế giới xảy ra làm cho những phân tích, đánh giá để bóc tách tác động của từng hiệp định gặp rất nhiều khó khăn. Hơn nữa, chuỗi số liệu chưa đủ dài để có thể sử dụng phương pháp định lượng đánh giá tác động của từng hiệp định. Đây thực sự là những khó khăn cho các nhà nghiên cứu và các nhà lập chính sách khi muốn xem xét tác động của từng hiệp định, bản chất của những tác động, rồi từ đó rút ra bài học thành công hay thất bại cho những FTA song phương và khu vực trong tương lai. Bài viết này nhằm gợi mở những hướng chính sách thương mại cho thời gian sắp tới. Thứ nhất, tùy thuộc vào bản chất khác nhau của từng hiệp định mà sẽ có những tác động khác nhau đến nền kinh tế. Trong 10 năm qua, Hiệp định Thương mại Song phương Việt Nam - Hoa Kỳ ký kết vào năm 2001 và việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2007 đã có tác động mạnh mẽ, rõ nét nhất đến nền kinh tế Việt nam. Hiệp định Thương mại Song phương Việt Nam – Hoa Kỳ có tác động tích cực đến tăng trưởng của nền kinh tế, đến hoạt động đầu tư và đến hoạt động xuất nhập khẩu. Thông qua Hiệp định này, nền kinh tế Việt Nam đã có những thành công trong việc mở rộng xuất khẩu và xuất siêu sang thị trường Hoa Kỳ. Đối với việc gai nhập WTO, cả xuất khẩu và nhập khẩu đều tăng, tuy nhiên, xuất khẩu chưa thực tăng mạnh mẽ, trong khi đó nhập khẩu lại gia tăng rất nhanh và mạnh. Kết quả là, gia nhập WTO có tác động chủ yếu đến nhập khẩu và do đó làm cho tình trạng nhập siêu của Việt Nam trở nên nghiêm trọng kể từ năm 2007, đặt nền kinh tế vào những rủi ro và thách thức sau khi gia nhập. Đối với AFTA, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng có quá ít tác động tích cực lên nền kinh tế, hơn nữa tham gia vào AFTA lại làm chệch hướng thương mại, nghĩa là thay những nhà xuất khẩu hiệu quả bằng những nhà xuất khẩu kém hiệu quả hơn trong khu vực hiệp định thương mại tự do. Do đó, trong quá trình đàm phán để ký kết các FTA, Việt Nam cần có những nghiên cứu thận trọng đặc điểm của các nước tham gia ký kết và nội hàm của các FTA để làm cho quá trình tạo ra thương mại nhiều hơn là chệch hướng thương mại. Ngoài ra, một số bằng chứng khảo sát thực tế cũng cho thấy mức độ “tận dụng” AFTA của các doanh nghiệp Việt Nam là không cao, khiến cho hiệu ứng của AFTA đối với nền kinh tế Việt Nam chưa đạt như kỳ vọng. Thứ hai, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam không có nhiều thay đổi trong 10 năm qua. Các mặt hàng xuất khẩu tập trung chủ yếu vào nông sản phẩm, khoáng sản và các mặt hàng gia công, lắp ráp. Những mặt hàng xuất khẩu này vừa có giá trị gia tăng thấp, vừa thâm dụng nhiều lao động không kỹ năng, và đồng thời bản chất của quá trình sản xuất cho xuất khẩu cũng làm tình hình nhập siêu của nền kinh tế thêm tồi tệ mỗi khi xuất khẩu gia tăng. Các mặt hàng nhập khẩu tập trung chủ yếu vào nguyên phụ liệu, máy móc, trang thiết bị công nghệ làm đầu vào cho các hoạt động sản xuất trong nước và cho xuất khẩu. Nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng, hàng xa xỉ phẩm mặc dù chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng đang có xu hướng gia tăng. Do nhập khẩu đầu vào sản xuất chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng kim ngạch nhập khẩu của nền kinh tế, nên nếu hạn chế nhập khẩu các mặt hàng này sẽ gây ra khó khăn cho hoạt động sản xuất trong nước và cho xuất khẩu. Để vừa hạn chế nhập khẩu, vừa không làm ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế trong nước, chính sách thương mại có thể được bổ sung, hỗ trợ bởi chính sách ngành kinh tế khác. Thứ ba, đối với thị trường xuất nhập khẩu hàng hóa, Việt Nam có tỷ trọng thương mại chủ yếu với Mỹ, EU, 3 nước Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, và Trung Quốc), và ASEAN. Kể từ sau khi ký kết BTA Việt Nam – Hoa Kỳ, xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ tăng mạnh và hiện nay Hoa Kỳ là một trong những bạn hàng lớn nhất của Việt Nam. Xuất khẩu sang EU cũng chiếm tỷ phần lớn. Đối với nhập khẩu, Việt Nam nhập khẩu rất lớn từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông và Thái Lan. Đáng lưu ý, một số nước mà Việt Nam có nhập siêu đều có FDI lớn tại Việt Nam. Thứ tư, sau khi gia nhập WTO, độ mở ngành dịch vụ là khá lớn và do đó đầu tư FDI vào ngành dịch vụ tăng mạnh, vừa kéo theo nhập khẩu gia tăng nhưng không tạo ra xuất khẩu tương ứng. Hiện tượng này buộc các cơ quan chức năng không chỉ hướng vào chính sách thu hút FDI mà còn phải thực hiện mạnh mẽ chính sách quản lý FDI. Thứ năm, hiện nay, các biện pháp bảo hộ tinh vi và nhất là lại phù hợp với các nguyên tắc của WTO được sử dụng phổ biến và có chiều hướng gia tăng. Một số phác họa về các biện pháp bảo hộ ở trên gợi ra hướng chính sách thương mại sắp tới cho nền kinh tế Việt Nam. Phần 2: Một số hàm ý chính sách ứng phó Nguồn: Dự án EU-Việt Nam MUTRAP III
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|
BÀI CÙNG CHUYÊN MỤC
Nguồn ảnh: Internet
Từ các phân tích, đánh giá tác động quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam trong 10 năm qua và một số xu hướng chính sách thương mại quốc tế gần đây trong bài viết trước, bài viết này xin đưa ra một số hàm ý chính sách ứng phó sau đây:Các chính sách ứng phó trong ngắn hạn:(i) Mặc dù nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng chiếm tỷ...

