| Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế và các chính sách ứng phó trong thời gian tới (phần 2) |
|
| Thứ hai, 12 / 12 / 2011 |
Một số hàm ý chính sách ứng phó![]() Nguồn ảnh: Internet
Từ các phân tích, đánh giá tác động quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam trong 10 năm qua và một số xu hướng chính sách thương mại quốc tế gần đây trong bài viết trước, bài viết này xin đưa ra một số hàm ý chính sách ứng phó sau đây: (ii) Ký kết BTA với Hoa Kỳ đã mang đến cho nền kinh tế Việt Nam rất nhiều thuận lợi bởi vì nền kinh tế Hoa Kỳ có những đặc điểm bổ sung chứ không thay thế cho nền kinh tế trong nước. Với các đặc điểm tương đồng giữa nền kinh tế EU và Mỹ, trong thời gian sắp tới Việt Nam cũng cần đẩy mạnh hợp tác toàn diện với khối EU nhằm tận dụng cơ hội xuất khẩu hàng hóa sang khu vực này. Hơn nữa, thúc đẩy hợp tác với khối EU còn nằm trong chính sách nhập khẩu công nghệ bao quát hơn. Nhập khẩu máy móc, trang thiết bị từ Trung Quốc có vòng đời sản phẩm rất ngắn do đó nếu tham gia hiệp định thương mại tự do với EU, nền kinh tế có thể chuyển hướng nhập khẩu máy móc, trang thiết bị, công nghệ từ Trung Quốc sang EU. (iii) Hiện nay, nhằm thúc đẩy xuất khẩu, nhiều loại nguyên phụ liệu của Việt Nam có thuế xuất bằng không nhưng lại áp thuế nhập khẩu nhiều loại đầu vào quan trọng khác của nền kinh tế. Điều này có vẻ như chúng ta đang “trợ cấp” cho đầu vào sản xuất của các doanh nghiệp ở nước nhập khẩu và “đánh thuế” các doanh nghiệp trong nước phải nhập khẩu để sản xuất hay chế xuất. Do đó, khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam sẽ thua kém so với hàng hóa nước ngoài. Để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu thì phải nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước, ít nhất là dưới khía cạnh cạnh tranh được về giá cả. Muốn nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước, trong những trường hợp cần thiết và mang tính “bảo hộ hợp pháp”, chính sách thương mại cần một cách tiếp cận “đảo lô-gích”. Cụ thể: Có vẻ nghịch lý so với những suy diễn logic thông thường, nghĩa là cần tăng thuế xuất khẩu một cách có chọn lọc những loại đầu vào chiến lược thỏa mãn 2 điều kiện: (i) hạn chế lượng cung các mặt hàng này qua việc tăng thuế xuất khẩu làm tăng giá “đầu vào” trên thị trường thế giới, hay nói cách khác chúng ta có năng lực “độc quyền” ở các mặt hàng trên thị trường thế giới; (ii) Các nước nhập khẩu các loại mặt hàng này làm đầu vào cho sản xuất các sản phẩm cạnh tranh với các sản phẩm tương tự ở Việt Nam. Khi đó, tăng thuế xuất khẩu sẽ hạn chế lượng cung, tăng giá mặt hàng đầu vào, tăng chi phí sản xuất của các nhà sản xuất nước ngoài, tăng giá thành và giá cả sản phẩm và do đó giảm tính cạnh tranh của họ so với hàng hóa của Việt Nam. Tiếp đến, Việt Nam có thể đơn phương cắt giảm thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng là đầu vào chiến lược cho các hoạt động sản xuất và chế xuất trong nước. Các chính sách thuế quan “đảo lô-gích” này có thể gián tiếp nâng cao sức cạnh tranh của nhà sản xuất và hàng hóa từ Việt Nam, thúc đẩy xuất khẩu và giảm nhập siêu. Các chính sách thương mại trong trung và dài hạn: (i) Kinh nghiệm từ nhiều nước vừa có FDI lớn vừa có nhập siêu lớn với Việt Nam cho thấy, dòng FDI của họ chảy ra vào nền kinh tế Việt Nam cũng thường đi kèm theo đó là dòng hàng hóa và dịch vụ, hay nói cách khác, dòng FDI khai thông cho dòng hàng hóa và dịch vụ. Trong những năm gần đây, đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam tăng mạnh, vì thế có thể tận dụng cơ hội này để mở rộng thị trường hàng hóa và lao động của Việt Nam. Nhà nước có thể hỗ trợ các công ty Việt Nam để nhận được gói thầu theo hình thức hợp đồng EPC tại các dự án ở nước ngoài. Có như thế, Việt Nam mới có thể phát triển được ngành công nghiệp cơ khí, công nghiệp nặng qua việc tìm được đầu ra cho sản phẩm và khi quy mô thị trường được mở rộng thì các công ty Việt Nam mới có thể tận dụng được tính kinh tế theo quy mô để giảm thiểu chi phí sản xuất. (ii) Tham gia AFTA chưa đem lại hiệu ứng thương mại kỳ vọng cho Việt Nam. Có những bằng chứng cho thấy có chệch hướng thương mại khi thực hiện AFTA, có nghĩa là những nhà sản xuất tại các nước không thuộc FTA trước đây có xuất khẩu vào thị trường Việt Nam giờ chuyển sang cho các nhà sản xuất tại các nước thuộc FTA xuất khẩu hàng hóa sang Việt Nam. Chệch hướng thương mại làm cho nền kinh tế trong nước kém hiệu quả hơn. Hơn nữa, thực hiện FTA giữa ASEAN và Trung Quốc dự kiến có những tác động chệch hướng thương mại mạnh hơn nữa. Bài học rút ra từ thực trạng này là khi tham gia các hiệp định FTA song phương hay khu vực, Việt Nam phải nghiên cứu kỹ đặc điểm của các nước ký kết, những tác động có khả năng và những chính sách ứng phó đi kèm. Nếu không có các phân tích trước khi ký kết, nền kinh tế Việt Nam sẽ bị động và rất dễ bị tổn thương sau khi thực hiện FTA. (iii) FDI vào Việt Nam kể từ sau khi nền kinh tế gia nhập WTO chủ yếu vào các ngành dịch vụ, vừa không tạo ra xuất khẩu mà lại có xu hướng thâm dụng nhập khẩu. Vì thế, chính sách thương mại và chính sách FDI phải đi cùng với nhau, thay vì chỉ tập trung vào các chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, Việt Nam nên tập trung cả đến chính sách quản lý vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nhiều dự án FDI mà các nhà đầu tư nước ngoài nhận được đều theo hình thức EPC, có nghĩa là nhà thầu thực hiện toàn bộ các công việc từ thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công, cung ứng vật tư, thiết bị đến thi công xây dựng công trình, hạng mục công trình và chạy thử bàn giao cho chủ đầu tư. Ngoài ra, hợp đồng tổng thầu “chìa khóa trao tay” - một hình thức khác của EPC – thì ngoài các phần trên, nhà thầu được chọn còn thực hiện việc lập dự án đầu tư xây dựng công trình. Hiện nay, nhiều nhà thầu nước ngoài thắng thầu ở các dự án Việt Nam theo hình thức EPC và họ đã tận dụng cơ hội này để nhập khẩu nhiều máy móc, trang thiết bị từ nước họ, gây nên tình trạng nhập siêu nặng nề cho nền kinh tế Việt Nam. Các cơ quan chức năng có thể kiểm soát loại hợp đồng kiểu này, có thể bằng các quy định phải mua hàng hóa từ một công ty trong nước được chỉ định hoặc đưa ra các tiêu chí máy móc cần nhập khẩu, hoặc được chọn đối tác nhập khẩu từ nước ngoài mà các công ty trong nước chưa đảm nhận được. (iv) Đổi mới phạm vi và nội hàm của chính sách thương mại: Các chính sách thương mại nên hướng cả vào nhiệm vụ chiếm lĩnh những ngành hàng, xâm nhập vào các chuỗi giá trị, chứ không chỉ hướng vào nhiệm vụ thâm nhập thị trường nước ngoài. Khái niệm thị trường hiện nay không còn giới hạn bởi một quốc gia, vùng lãnh thổ mà là thương mại nội ngành, mạng sản xuất toàn cầu hay chuỗi giá trị toàn cầu. Chẳng hạn, Việt Nam xuất khẩu hàng dệt may, giày dép sang Hoa Kỳ và EU nhưng lại nhập khẩu nguyên phụ liệu từ Trung Quốc. Nếu chặn thị trường nhập khẩu từ Trung Quốc sẽ ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của nền kinh tế. Do đó, cần phải có chiến lược phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, có thể không phải bằng cách “tự” xây dựng, mà nên dựa vào các nhà đầu tư nước ngoài. Ví dụ, tận dụng vị thế Nhật Bản là đối tác chiến lược của Việt Nam, kêu gọi và khuyến khích các doanh Nhật Bản đặt các ngành sản xuất linh phụ kiện cho ô tô tại thị trường Việt Nam, vừa phục vụ được nhu cầu sản xuất của ngành ô tô trong nước, vừa xuất khẩu các linh phụ kiện này ra nước ngoài thông qua chuỗi giá trị sản xuất ô tô của Nhật Bản đặt tại nhiều nước trên thế giới. (v) Thực hiện cuộc vận động “người Việt Nam dùng hàng Việt Nam” kiên trì, sâu rộng và với nhiều hình thức đa dạng. Tuy nhiên, cần lưu ý, đây phải là hình thức khuyến khích chứ không phải là bắt buộc nên các mặt hàng sản xuất tại Việt Nam cũng phải đặt tiêu chí chất lượng lên hàng đầu. Lấy cuộc vận động “người Việt Nam dùng hàng Việt Nam” như một hình thức kêu gọi lòng tự hào dân tộc và đồng thời cũng như một hình thức hỗ trợ cho hoạt động quảng cáo, quảng bá hình ảnh và sản phẩm của các doanh nghiệp trong nước. (vi) Tăng cường xây dựng chính sách bảo hộ hợp pháp, nghĩa là vẫn có thể giảm nhập khẩu hoặc thúc đẩy xuất khẩu mà vẫn đảm bảo phù hợp với các cam kết của các hiệp định thương mại đã ký kết. Trên thực tế, các nước vẫn đang sử dụng các biện pháp bảo hộ hợp pháp như các biện pháp phòng vệ thương mại. Do đó, các cơ quan chức năng nên xây dựng một bộ máy tổ chức tập trung, có năng lực để xây dựng các chính sách bảo hộ hợp pháp, đặc biệt là hướng đến các biện pháp phòng vệ thương mại. Các biện pháp chống bán phá giá, tự vệ, hay chống trợ cấp nên được thực hiện tập trung, bài bản và khoa học bởi vì những biện pháp này được WTO cho phép và các nước đã sử dụng rất nhiều. Chúng ta không chỉ nghiên cứu cách thức để tránh bị nước khác chống bán phá giá, tự vệ hay chống trợ cấp, mà bản thân Bộ máy cần phải thiết kế ra cách thức để có thể sử dụng các biện pháp này hiệu quả. (vii) Xây dựng khung chính sách thương mại đồng bộ, toàn diện và phù hợp với các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết. Các hiệp định thương mại không chỉ gồm các điều khoản liên quan đến thương mại thuần túy mà còn đến nhiều lĩnh vực khác nữa như đầu tư, cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, môi trường và lao động ..v.v. Do đó một khung khổ chính sách thương mại mới, đồng bộ và toàn diện sẽ là sự kết hợp và giao thoa giữa các chính sách ngoại thương, chính sách đầu tư, chính sách cạnh tranh và chính sách điều tiết thị trường. Một sự kết hợp cần thiết và đủ tinh vi để tạo lập những thể chế điều hành các lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực đủ năng lực tận dụng thời cơ và ứng phó hữu hiệu với các thách thức mới của nền thương mại toàn cầu. Nguồn: Dự án EU-Việt Nam MUTRAP III
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|
BÀI CÙNG CHUYÊN MỤC
Nguồn ảnh: Internet
Từ các phân tích, đánh giá tác động quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam trong 10 năm qua và một số xu hướng chính sách thương mại quốc tế gần đây trong bài viết trước, bài viết này xin đưa ra một số hàm ý chính sách ứng phó sau đây:Các chính sách ứng phó trong ngắn hạn:(i) Mặc dù nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng chiếm tỷ...

