open

Mối quan hệ giữa các cam kết của Việt Nam trong khu vực mậu dịch tự do ASEAN và WTO – Các Hiệp định thương mại tự do Email
Thứ sáu, 13 / 01 / 2012

Kể từ đầu thời kỳ cải cách, Việt Nam đã tham gia vào việc đàm phán và ký kết một số hiệp định thương mại, ở mức độ song phương, khu vực và đa phương. Như đã thấy ở trên, Việt Nam tôn trọng triệt để Hiệp định CEPT AFTA vào năm 1995. Là một bên tham gia AFTA và ASEAN, Việt Nam cũng đã ký kết thành công hiệp định thương mại để hội nhập sâu sắc hơn giữa ASEAN và các đối tác kinh doanh khác, như khu vực thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc, khu vực thương mại tự do ASEAN-Hàn Quốc và Khu vực Thương mại Tự do ASEAN và Úc và Newzealand.

Nguồn ảnh: Internet

Ngoài ra, thông qua ASEAN, Việt Nam đã thiết lập các khuôn khổ cho việc ký kếtvà thực hiện các Hiệp định thương mại tự do (FTAs) với Ấn Độ và Nhật Bản, và hiện đang đàm phán FTA với EU. Ở mức độ đa phương, Việt Nam đã đăng ký là thành viên của WTO vào năm 1995, và chính thức gia nhập tổ chức vào tháng 11 năm 2007.

Cả WTO và các Hiệp định thương mại khu vực (gọi tắt là: RTAs) đều nhằm mục đích thúc đẩy tự do hóa thương mại, mặc dù với những phương pháp tiếp cận khác nhau.  RTAs cũng như AFTA cho phép các nhóm nước tự do hóa thương mại hơn nữa với một tốc độ nhanh hơn so với các hiệp định đa phương, kết quả là, lợi ích lớn hơn cho các bên so với những phát sinh từ việc gia nhập WTO. Ngoài ra, họ có thể có một phạm vi rộng hơn để mở rộng điều mà các nước đều nhằm mục đích mở rộng và làm sâu sắc thêm quan hệ kinh tế trong khu vực điều mà hiện WTO đang không thể bao chum được. Tuy nhiên, để mở rộng tới mức mà các chế độ ưu đãi thương mại được cấp cho các quốc gia được lựa chọn (cụ thể là, những quốc gia này là các bên tham gia RTAs), RTAs có một đặt trưng là phân biệt đối xử.

Đặc trưng của WTO là dựa trên cơ sở nguyên tắc không phân biệt. Các thành viên WTO không thể phân biệt đối xử giữa các sản phẩm cũng như đối với thuế hải quan, phí nhập khẩu, thuế nội bộ và các quy định ảnh hưởng đến việc phân phối, bán và sử dụng của sản phẩm. Nguyên tắc áp dụng giữa các sản phẩm có nguồn gốc từ các quốc gia khác nhau cũng như giữa sản phẩm nước ngoài và sản phẩm trong nước.

Về nguyên tắc, các FTAs và RTAs mâu thuẫn với tinh thần của WTO trong phạm vi mà các bên tham gia thỏa thuận dành cho nhau ưu đãi thương mại tốt hơn khác hơn những quy định như vậy đối với các thành viên WTO khác. Tuy nhiên, Hiệp định WTO dự tính một số trường hợp ngoại lệ cho phép các thành viên WTO thực hiện, và là một phần của, các FTAs và RTAs.

Ngoại lệ có liên quan nhất cho phép các thành viên WTO ký kết hiệp định FTAs và RTAs ảnhhưởng đến thương mại hàng hoá là của Điều XXIV của GATT. Tuy nhiên, để được chứng minh theo Điều XXIV, Hiệp định FTAs phải chỉ ra được các nghĩa vụ và các quy định hạn chế thương mại được loại bỏ trên toàn bộ thương mại giữa các vùng lãnh thổ thành phần. Ngoài ra, Điều XXIV cũng yêu cầu các nghĩa vụ và các quy định khác của thương mại duy trì ở mỗi vùng lãnh thổ cấu thành và áp dụng để hình thành các FTAs này không được cao hơn hoặc hạn chế hơn là những nhiệm vụ tương ứng và các quy định khác hiện có trong cùng một vùng lãnh thổ trước khi hình thành các FTAs. Việc đánh giá đối với các nghĩa vụ và các khoản phí sẽ được dựa trên đánh giá tổng thể các mức thuế quan bình quân và các nghĩa vụ hải quan thu thập trên mộtkhoảng thời gian đại diện trước.

Một ngoại lệ khác của WTO có liên quan để tạo ra các RTAs là đưa ra cái gọi là "điều khoản cho phép", cho phép những thỏa thuận ưu đãi giữa các nước đang phát triển, với những yêu cầu là (i) các thỏa thuận đó phải được thiết kế để tạo thuận lợi và thúc đẩy thương mại của các nước đang phát triển và không tăng hoặc tạo ra các rào cản khó khăn quá mức cho thương mại của bất cứ thành viên WTO, và (ii) rằng những thỏa thuận đó không phải là một trở ngại cho việc giảm hoặc loại bỏ thuế quan và hạn chế khác đối với thương mại trên cơ sở tối huệ quốc. Các AFTA là hợp lý theo cơ chế như vậy.

Do đó, Việt Nam tham gia AFTA, cũng như trong các FTAs khác, không phải là không phù hợp với nghĩa vụ đối với WTO.

Nguồn: Dự án EU-Việt Nam MUTRAP III

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 
You must have Flash Player installed in order to see this player.

BÀI CÙNG CHUYÊN MỤC

Kinh tế Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Thứ hai, 28 / 11 / 2011 Bức tranh kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong giai đoạn 2001-2010 được định hình bởi các mốc hội nhập kinh tế quốc tế, các cú sốc bên ngoài (giá dầu tăng cao vào năm 2007 và đầu năm 2008 và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra vào cuối năm 2008 và năm 2009), và các cú sốc chính sách (gói kích cầu triển khai vào năm 1999, chính sách tiền tệ thắt chặt vào đầu năm...
Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế và các chính sách ứng phó trong thời gian tới (phần 2) Thứ hai, 12 / 12 / 2011 Một số hàm ý chính sách ứng phó Nguồn ảnh: Internet Từ các phân tích, đánh giá tác động quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam trong 10 năm qua và một số xu hướng chính sách thương mại quốc tế gần đây trong bài viết trước, bài viết này xin đưa ra một số hàm ý chính sách ứng phó sau đây:Các chính sách ứng phó trong ngắn hạn:(i) Mặc dù nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng chiếm tỷ...
Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế và các chính sách ứng phó trong thời gian tới (phần 1) Thứ năm, 08 / 12 / 2011 Thông qua chính sách Đổi mới và chủ động mở cửa nền kinh tế kể từ năm 1986, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Trong các năm tiếp sau đó, hội nhập kinh tế quốc tế thông qua các hiệp định tự do hóa thương mại ở cả ba cấp độ song phương, khu vực và đa phương đã làm cho nền kinh tế Việt Nam mở rộng không...
Trào lưu hội nhập kinh tế quốc tế trên thế giới và hệ lụy đối với Việt Nam Thứ năm, 17 / 11 / 2011 Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại đang là xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại. Thế giới đã và đang chứng kiến sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và sinh học, làm tăng nhanh lực lượng sản xuất và tạo ra sự thay đổi sâu sắc cơ cấu sản xuất, phân phối, tiêu dùng,...
Hội nhập kinh tế quốc tế và xu hướng xuất nhập khẩu của Việt Nam Thứ hai, 05 / 12 / 2011 Cùng với xu hướng cải cách kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế, quy mô hoạt động thương mại của Việt Nam ngày càng gia tăng. Xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa đã tăng khá nhanh, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Tuy nhiên, tăng trưởng xuất nhập khẩu sau 2007 do cả tăng lượng xuất nhập khẩu cũng như tăng giá trên thị trường thế giới. Nhìn chung, nhập khẩu tăng nhanh hơn...