open

Tiến trình tham gia các FTA của Việt Nam và các bài học cần rút ra Email
Thứ hai, 06 / 02 / 2012

Tiến trình tham gia các FTA của Việt Nam được khởi động và triển khai cùng với tiến trình gia nhập các tổ chức quốc tế, khu vực (ASEAN, ASEM, APEC, WTO…). Ngay sau khi gia nhập ASEAN (tháng 7/1995), Việt Nam đã bắt đầu tham gia các liên kết thương mại khu vực. Đến nay, chúng ta đã tham gia thiết lập FTA với 15 nước trong khuôn khổ 6 FTA khu vực (AFTA, ACFTA, AKFTA, AJFTA, AANZFTA, AIFTA), với phạm vi lĩnh vực tự do hóa khác nhau. Tỉ trọng thương mại hai chiều giữa Việt Nam với các đối tác đã có FTA chiếm gần 60% tổng giá trị thương mại quốc tế của Việt Nam, trong đó chiếm gần 50% kim ngạch xuất khẩu và gần 70% kim ngạch nhập khẩu.

Nguồn ảnh: Dự án EU-Việt Nam MUTRAP III

Trong 15 năm thực hiện hội nhập các FTA, chúng ta đã tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức cả trong đàm phán ký kết các Hiệp định FTA và trong thực hiện các cam kết FTA, đạt được những kết quả bước đầu và quan trọng. Chúng ta đã có cách thức hội nhập các FTA phù hợp với bối cảnh quốc tế, khu vực và tình hình đất nước, đạt được lợi ích chính trị chiến lược của ta trong bối cảnh hội nhập khu vực.

Các FTA tham gia góp phần quan trọng trong thúc đẩy giao lưu thương mại giữa Việt Nam với các đối tác trong khu vực, tăng cường xuất khẩu, phát triển thị trường, thu hút đầu tư của nước ngoài, thúc đẩy cải cách nền kinh tế theo hướng kinh tế thị trường đầy đủ.

Tham gia các FTA đã góp phần quan trọng cải thiện môi trường kinh doanh, hỗ trợ nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm và doanh nghiệp, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Ta đã giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế trong tham gia các FTA, góp phần nâng cao vị thế của ta trong khu vực và thế giới; lợi ích dân tộc được đảm bảo và nâng cao. Sự tham gia 6 FTA khu vực là một nấc thang quan trọng để Việt Nam bước tiếp lên các nấc thang liên kết và hội nhập quốc tế cao hơn, sâu hơn, trước hết là trong việc hoàn thành AEC vào năm 2015 và phát triển các liên kết FTA song phương để đạt được lợi ích dân tộc trong dài hạn.

Đạt được những thành quả trên là nhờ chủ trương hội nhập quốc tế đúng đắn, kịp thời của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, sự chỉ đạo, điều hành năng động của Chính phủ và sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp, của các cấp, các ngành và của toàn dân.

Tuy nhiên, trong tham gia các FTA thời gian qua, chúng ta còn những hạn chế, yếu kém. Tham gia các FTA còn mang tính bị động, bị lôi cuốn theo tình thế và yêu cầu chính trị, trong khi mức độ sẵn sàng và sự chuẩn bị của nền kinh tế nước ta chưa cao. Quan điểm và nhận thức về tham gia các FTA ở nước ta còn có sự khác nhau, chưa thống nhất; Chưa có chiến lược, bài bản rõ ràng khi tham gia các FTA. Chưa tạo được các nỗ lực cao trong toàn xã hội để tận dụng tối đa các ưu đãi, các cơ hội từ tham gia các FTA để duy trì mức tăng trưởng xuất khẩu cao sang các thị trường đã ký FTA, hạn chế các tác động bất lợi của tự do hóa theo các cam kết FTA đối với thương mại , nhất là khi xảy ra khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu.Ta chưa chuẩn bị tốt các điều kiện cơ bản trong nước khi tham gia các FTA và chưa sử dụng được hiệu quả các FTA đã ký kết làm công cụ để cải thiện cán cân thương mại, cán cân thanh toán vãng lai và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng chất lượng, hiệu quả, phát triển bền vững.Các lợi ích quốc gia thu được từ tham gia các FTA chưa tương xứng với tiềm năng, nhất là các tiềm năng về liên kết và hợp tác song phương.

Những hạn chế, yếu kém nêu trên đã tác động bất lợi đến sản xuất,thương mại mà đặc biệt là xuất nhập khẩu, nhập siêu của nước ta trong những năm qua, và có thể có những tác động bất lợi lâu dài đối với nền kinh tế . Cụ thể là:

(1) Sự thiếu đồng bộ, nhất quán giữa Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu thời kỳ 2001 – 2010 và sự tham gia 6 FTA khu vực là nguyên nhân chủ quan dẫn tới cơ cấu xuất, nhập khẩu không chuyển dịch theo mong muốn của ta đã xác định trong Chiến lược và Đề án phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006 – 2010. Đó là tăng tỉ trọng nhập khẩu từ thị trường Bắc Mỹ, EU để tăng nhập khẩu máy móc thiết bị và công nghệ tiên tiến và giảm tỉ trọng của thị trường Châu Á để hạn chế nhập khẩu công nghệ thấp, công nghệ trung gian. Ta đã không thực hiện được mục tiêu chiến lược về giảm tỉ trọng của thị trường Châu Á từ chiếm 80% trong năm 2000 xuống 55% vào năm 2010, mà ngược lại, đến năm 2005 thị trường Châu Á vẫn chiếm 81%, năm 2008 tăng lên 82,2% và năm 2010 vẫn chiếm khoảng 79 – 80% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam. Đây cũng là một trong những nguyên nhân của hiện tượng tỉ trọng của nhóm máy móc thiết bị và công nghệ - yếu tố hàng đầu để tăng năng lực sản xuất và hình thành sức cạnh tranh của sản phẩm – đã có xu hướng giảm liên tục từ 21,1% trong tổng kim ngạch nhập khẩu của năm 2003 xuống 14,7% trong năm 2006 và chỉ ở mức 17 – 18% trong giai đoạn 2007 – 2010. Trong khi Bắc Mỹ và EU là những thị trường “nguồn” của công nghệ cao, thiết bị hiện đại, có tác động lớn đến sự đổi mới kỹ thuật trong nước thì ta lại chưa ký FTA và xuất siêu lớn, ngược lại, chúng ta đã ký AFTA, ACFTA, AKFTA trước khi gia nhập WTO và nhập siêu rất lớn từ khu vực thị trường Châu Á, đặc biệt là từ Trung Quốc, là thị trường gần, mở cửa, giao lưu sớm, ít rào cản thương mại nhưng phần lớn là công nghệ thấp, công nghệ trung gian.

(2) Việc tham gia 6 FTA khu vực, đã làm tăng những thách thức đến sự độc lập tự chủ của Việt Nam trong phát triển kinh tế, làm tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế nước ta vào các nền kinh tế lớn trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc về các nguồn nguyên phụ liệu, máy móc thiết bị và công nghệ thấp, về đầu tư, công nghệ và tài chính… để lại bất lợi lâu dài cho nền kinh tế. Đã xuất hiện quá trình ngược với nguyên lý thông thường khi mức độ tập trung thương mại của Việt Nam với nền kinh tế có cơ cấu tương đồng là Trung Quốc tăng đột biến sau khi EFH/ACFTA có hiệu lực; trong khi mức độ tập trung thương mại với các đối tac có cơ cấu kinh tế bổ sung cho ta và có công nghệ cao là Nhật Bản lại bị suy giảm mạnh từ khi AJFTA và VJEPA có hiệu lực (tỉ trọng của thị trường Trung Quốc trong tổng kim ngạch XNK của Việt Nam đã tăng nhanh từ 8,6% năm 2003 lên 14% năm 2008 và 14,4% năm 2010), làm tăng nguy cơ mất cân đối cơ cấu kinh tế Việt Nam.

(3) Tự do hoá thương mại và đầu tư theo các cam kết 6 FTA khu vực mà Việt Nam đã tham gia cũng tác động làm gia tăng thách thức đối với phát triển bền vững của nền kinh tế nước ta, tăng mức độ thâm dụng tài nguyên của tăng trưởng xuất khẩu và kiềm chế sức cạnh tranh dài hạn của sản phẩm, doanh nghiệp và toàn nền kinh tế. Xu hướng tập trung thương mại và những hiệu ứng của tự do hoá đầu tư cùng những tác động thương mại của các FTA đã ký kết đã kéo theo sự tập trung đầu tư tài chính, nhất là nguồn vốn FDI của các nước trong khu vực, đặc biệt là đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam (hệ số tương quan giữa mức độ tập trung thương mại và lượng vốn FDI của ASEAN+6 vào Việt Nam trong giai đoạn 1998 – 2010 là +0,67). Bên cạnh những tác động tích cực, dòng vốn FDI từ các nước ASEAN+6, đặc biệt là từ Trung Quốc vào Việt Nam thường đi kèm với dòng nguyên phụ liệu, máy móc thiết bị và công nghệ lạc hậu, công nghệ thấp (cả công nghệ rác) vào nước ta cũng tăng lên.

Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến cấu trúc hàm lượng công nghệ của hàng nhập khẩu của ta chậm chuyển dịch. Trong giai đoạn 2000 – 2007, tỉ trọng của hàng công nghệ cao chỉ tăng từ 14,3% lên khoảng 15,3% (tăng 1 điểm phần trăm trong 8 năm), đồng thời chúng ta đã có bước thụt lùi về công nghệ là giảm nhập khẩu công nghệ trung – cao từ 28,3% xuống 22% (-5,7%) để tăng nhập khẩu côn nghệ trung – thấp từ 28,7% lên 35,4% (+6,7%). Mặt khác, từ năm 2007, vốn đầu tư FDI của Trung Quốc và một số đối tác đã ký FTA vào Việt Nam chủ yếu tập trung vào lĩnh vực khai thác tài nguyên, khoáng sản và lĩnh vực kinh doanh nhà hàng, khách sạn là những lĩnh vực có hệ số bảo hộ cao, tỉ suất lợi nhuận lớn, đã góp phần làm tăng nguy cơ thâm dụng tài nguyên và giảm nguồn hàng xuất khẩu của khu vực FDI. Từ năm 2006, dòng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đã có sự chuyển hướng bất lợi cho ta: tỉ trọng vốn FDI đăng ký vào công nghiệp khai thác tài nguyên đã tăng vọt từ 1,2% năm 2007 lên 17,5% năm 2008 và khoảng trên 20% năm 2010, vào lĩnh vực kinh doanh tài sản cũng  tăng mạnh từ 15,2% năm 2006 lên 28,6% năm 2007 và khoảng 30% năm 2010, riêng vào khách sạn, nhà hàng tăng từ 4,2% năm 2006 lên 15,1% năm 2008; tỉ trọng của khu vực FDI trong tổng kim ngạch xuất khẩu đã giảm từ 57,9% năm 2006 xuống 42,3% năm 2009 và khoảng 47% trong năm 2010.

(4) Các FTA đã ký kết có hiệu ứng cộng hưởng với các căn nguyên khác dẫn đến nhập siêu của Việt Nam tăng cao từ thị trường Trung Quốc và một số đối tác trong khu vực ASEAN+6 (tỉ lệ giá trị nhập siêu từ thị trường Trung Quốc so với tổng giá trị nhập siêu của Việt Nam đã tăng vọt từ 30,9% năm 2004 lên 82% năm 2006, 63,8% năm 2007 và khoảng trên 60% năm 2010). Trong 6 FTA khu vực đã ký kết, ACFTA đã tác động bất lợi cho Việt Nam ở cả hai chiều xuất và nhập khẩu, ảnh hưởng đến cán cân thương mại song phương Việt Nam – Trung Quốc theo hướng ngày càng bất lợi cho Việt Nam. Thị phần của hàng Trung Quốc trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá vào thị trường Việt Nam đã có xu hướng tăng nhanh từ 14,4% năm 2004 lên 23,5% năm 2009, trong khi đó thị phần của hàng Việt Nam trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá vào thị trường Trung Quốc lại có xu hướng giảm từ 0,54% năm 2004 xuống 0,38% năm 2008 và 0,49% năm 2009. Trong quan hệ FTA với Trung Quốc, Việt Nam bị bất lợi nhiều nhất từ các FTA đã ký kết .

(5) Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường đã ký FTA chưa có chuyển biến mạnh, vẫn tập trung chủ yếu vào các mặt hàng nông sản (có mức cắt giảm thuế ít hơn nhiều so với các mặt hàng công nghiệp do các nước vẫn bảo hộ nông nghiệp trong các cam kết FTA), các mặt hàng công nghiệp sử dụng nhiều lao động và các mặt hàng nguyên nhiên vật liệu… Điều đó đã một mặt làm giảm hiệu quả của các FTA, mặt khác gia tăng xu hướng phát triển  xuất khẩu dựa trên cơ sở khai thác tài nguyên. Một số mặt hàng công nghiệp, nguyên liệu cơ bản ta vẫn đang phải  nhập khẩu nhưng lại có mức tăng trưởng xuất khẩu cao sang một số thị trường đã ký FTA (chẳng hạn năm 2010 so với năm 2005, xuất khẩu sắt thép và sản phẩm từ sắt thép của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản đã tăng trên 1.400%, giấy và các sản phẩm từ giấy tăng trên 1000%, chất dẻo và các sản phẩm chất dẻo tăng trên 600%, cao su và sản phẩm cao su tăng trên 550%)

(6) Các FTA mà Việt Nam tham gia đã tạo điều kiện thương mại thuận lợi cho phía đối tác trong tiếp cận thị trường và đẩy mạnh xuất khẩu  hàng hoá vào Việt Nam, nhưng đã gây bất lợi cho ta trong quản lý nhập khẩu hàng hoá  trong điều kiện ta chưa xây dựng và sử dụng hiệu quả các hàng rào thương mại (TBT, SPS, các biện pháp phòng vệ thương mại tạm thời), trong điều kiện sức cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam còn yếu, nhập siêu từ các thị trường đã ký FTA đang ở mức cao. Giá trị nhập siêu của Việt Nam vẫn chủ yếu (trên 90%) từ khu vực thị trường đã ký FTA, là yếu tố chính làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong những năm vừa qua, đồng thời làm thâm hụt trầm trọng cán cân thanh toán vãng lai của nền kinh tế. Các FTA mà ta đã ký kết có tác động bất lợi đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua và có thể trong cả ngắn và trung hạn. Đặc biệt trong quan hệ FTA với Trung Quốc, hàng hoá nước này có sức cạnh tranh cao hơn hàng hoá của ta nên tự do hoá thị trường đã dẫn tới hàng Trung Quốc xâm nhập ngày càng mạnh vào thị trường nước ta, làm thu hẹp một số ngành sản xuất, đẩy nhiều doanh nghiệp Việt Nam đứng trước nguy cơ bị phá sản, nhiều người lao động bị mất việc làm.

Những hạn chế, yếu kém trên đây có phần do nguyên nhân khách quan (như tác động bất lợi của hai cuộc khủng hoảng tài chính khu vực và suy thoái kinh tế toàn cầu, sự trỗi dậy của Trung Quốc…), nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu.Quá trình hội nhập các FTA chưa được lãnh đạo cấp cao nhất của Đảng và Nhà nước dành sự quan tâm định hướng, chỉ đạo sâu sát, thường xuyên.Hệ thống pháp luật và năng lực quản lý Nhà nước trên một số lĩnh vực trực tiếp liên quan đến hội nhập FTA còn bất cập.Kết cấu hạ tầng còn yếu kém, nhất là hạ tầng phát triển thương mại. Chất lượng nguồn nhân lực tham gia hội nhập FTA còn nhiều hạn chế, cả ở trong khâu đàm phán ký kết FTA và thực hiện các cam kết…

Từ thực tiễn phát triển đất nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kết quả tham gia  các FTA 15 năm qua, rút ra các bài học chủ yếu sau:

Một là, chủ động và tích cực hội nhập các FTA nhưng phải xuất phát từ yêu cầu bên trong của đất nước, phù hợp với sự chuẩn bị và mức độ sẵn sàng của nền kinh tế, của các doanh nghiệp.

Hai là, đặc biệt coi trọng sự thống nhất về nhận thức và hành động, nhất là về quan điểm và phương pháp tiếp cận tham gia các FTA trong các cấp lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, sự lãnh đạo, định hướng, chỉ đạo thường xuyên của lãnh đạo cấp cao nhất của Đảng và Nhà nước về quá trình tham gia các FTA, cả trong quyết định đàm phán ký kết các Hiệp định FTA và thực hiện các cam kết FTA.

Ba, là, chú trọng đồng thời các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội, ngoại giao, an ninh quốc phòng trong hội nhập các FTA; bảo đảm giữ vững độc lập tự chủ trong quá trình tham gia các FTA.

Bốn là, tự do hóa trong hội nhập FTA phải luôn cao hơn, sâu hơn các cam kết gia nhập WTO, trong đó thương mại hàng hóa là rất quan trọng, thương mại dịch vụ là quan trọng và thương mại đầu tư được quan tâm đúng mức.

Năm là, cần tận dụng tối đa các ưu đãi, cơ hội thị trường mà các FTA đã ký kết mở ra để đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập siêu, cải thiện cán cân vãng lai; và phải sử dụng có hiệu quả các FTA đã ký kết làm công cụ điều chỉnh chiến lược thị trường, chiến lược cạnh tranh của nước ta trong quan hệ cạnh tranh toàn cầu.

Nguồn: Dự án EU-Việt Nam MUTRAP III

 

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 
You must have Flash Player installed in order to see this player.

BÀI CÙNG CHUYÊN MỤC

Kinh tế Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Thứ hai, 28 / 11 / 2011 Bức tranh kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong giai đoạn 2001-2010 được định hình bởi các mốc hội nhập kinh tế quốc tế, các cú sốc bên ngoài (giá dầu tăng cao vào năm 2007 và đầu năm 2008 và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra vào cuối năm 2008 và năm 2009), và các cú sốc chính sách (gói kích cầu triển khai vào năm 1999, chính sách tiền tệ thắt chặt vào đầu năm...
Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế và các chính sách ứng phó trong thời gian tới (phần 2) Thứ hai, 12 / 12 / 2011 Một số hàm ý chính sách ứng phó Nguồn ảnh: Internet Từ các phân tích, đánh giá tác động quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam trong 10 năm qua và một số xu hướng chính sách thương mại quốc tế gần đây trong bài viết trước, bài viết này xin đưa ra một số hàm ý chính sách ứng phó sau đây:Các chính sách ứng phó trong ngắn hạn:(i) Mặc dù nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng chiếm tỷ...
Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế và các chính sách ứng phó trong thời gian tới (phần 1) Thứ năm, 08 / 12 / 2011 Thông qua chính sách Đổi mới và chủ động mở cửa nền kinh tế kể từ năm 1986, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Trong các năm tiếp sau đó, hội nhập kinh tế quốc tế thông qua các hiệp định tự do hóa thương mại ở cả ba cấp độ song phương, khu vực và đa phương đã làm cho nền kinh tế Việt Nam mở rộng không...
Trào lưu hội nhập kinh tế quốc tế trên thế giới và hệ lụy đối với Việt Nam Thứ năm, 17 / 11 / 2011 Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại đang là xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại. Thế giới đã và đang chứng kiến sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và sinh học, làm tăng nhanh lực lượng sản xuất và tạo ra sự thay đổi sâu sắc cơ cấu sản xuất, phân phối, tiêu dùng,...
Hội nhập kinh tế quốc tế và xu hướng xuất nhập khẩu của Việt Nam Thứ hai, 05 / 12 / 2011 Cùng với xu hướng cải cách kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế, quy mô hoạt động thương mại của Việt Nam ngày càng gia tăng. Xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa đã tăng khá nhanh, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Tuy nhiên, tăng trưởng xuất nhập khẩu sau 2007 do cả tăng lượng xuất nhập khẩu cũng như tăng giá trên thị trường thế giới. Nhìn chung, nhập khẩu tăng nhanh hơn...