| Bối cảnh pháp lý của ACFTA |
|
| Thứ tư, 22 / 02 / 2012 |
|
Hiệp định khung xây dựng nền tảng cho ACFTA bằng cách thiết lập cơ sở pháp lý cho việc đàm phán các nội dung: thương mại hàng hóa, dịch vụ, tự do hóa đầu tư và giải quyết tranh chấp, đồng thời xác lập quy tắc cho Chương trình Thu hoạch sớm (sau đây gọi là “EHP”) để cắt giảm thuế ngay lập tức cho một số chủng loại sản phẩm cụ thể (chủ yếu là sản phẩm nông nghiệp).
Nguồn ảnh: Internet Trên cơ sở Hiệp định khung, các Thành viên đồng ý bắt đầu đàm phán về thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và thủ tục giải quyết tranh chấp để đạt được các mục tiêu trên. Bốn hiệp định làm trụ cột cho ACFTA đã được đàm phán, bao gồm các hiệp định về thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư và giải quyết tranh chấp. Đàm phán về thương mại hàng hóa và giải quyết tranh chấp hoàn tất vào tháng 10/2004.Hai hiệp định tương ứng được ký kết vào ngày 29/11/2004. Tháng 7/2005, mức thuế áp dụng đối với hơn 7.000 mặt hàng tương đương 90% thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN 6 đã được cắt giảm xuống mức 5% và thấp hơn. Thông qua Hiệp định ACFTA DSM, các bên đã đồng ý thiết lập một cơ chế và thể chế chính thức để giải quyết các tranh chấp thương mại và đầu tư trong ACFTA. Hiệp định ACFTA DSM xác lập một hệ thống hoạt động trên cơ sở quy tắc để giải quyết các tranh chấp, bao gồm quy tắc cho việc rà soát các khiếu nại, tố cáo của bên thứ ba độc lập, các phán quyết có tính chất ràng buộc và các cơ chế thực hiện. Hệ thống các quy tắc và thủ tục của Hiệp định cùng với cơ quan ‘quản lý’ được thiết lập được coi là tham vọng và tiến bộ nhất so với cơ chế giải quyết tranh chấp của các FTA song phương khác. Hiệp định khung thiết lập cơ sở pháp lý cho đàm phán về tự do hóa thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, giải quyết tranh chấp và cho chương trình EHP. Phạm vi Hiệp định khung đặt ra cho các lĩnh vực đàm phán tùy thuộc từng lĩnh vực. Chẳng hạn, các nội dung chính về tự do hóa thuế quan và các khía cạnh khác thuộc lĩnh vực thương mại hàng hóa được quy định cụ thể tại Điều 3 Hiệp định khung. Đối với các lĩnh vực khác (dịch vụ và đầu tư) Hiệp định khung chỉ quy định các mục tiêu chính để đàm phán và mục tiêu về tự do hóa.Về giải quyết tranh chấp, Hiệp định khung quy định các Bên phải xác lập thủ tục giải quyết tranh chấp chính thức trong vòng 1 năm kể từ khi Hiệp định khung bắt đầu hiệu lực. Trong thời gian chưa có thủ tục giải quyết tranh chấp chính thức, mọi tranh chấp phát sinh liên quan đến việc diễn giải, thực hiện hoặc áp dụng Hiệp định khung sẽ được giải quyết thông qua tham vấn và trung gian hòa giải. Cùng với việc xác lập cơ sở cho đàm phán về thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và giải quyết tranh chấp, Hiệp định khung còn đề ra chương trình tự do hóa sớm đối với nhiều sản phẩm - Chương trình EHP. Cụ thể, tất cả các sản phẩm ở cấp độ 8/9 số thuộc Chương 1 đến Chương 8 của Hệ thống HS (tức là toàn bộ các sản phẩm nông nghiệp) là đối tượng tự do hóa thuế quan theo các lộ trình cụ thể tùy thuộc vào chủng loại sản phẩm.Mục tiêu của Chương trình EHP là đạt được nhân nhượng ngay với việc cắt giảm thuế quan sớm kể từ ngày 01/01/2006. Danh mục loại trừ cho phép các Bên không áp dụng EHP đối với các sản phẩm nhất định.Trên thực tế, chỉ các Thành viên ASEAN tận dụng khả năng này.Trung Quốc không đưa sản phẩm nào vào Danh mục loại trừ của mình.Ngoài ra, Trung Quốc đồng ý nhân nhượng đối với một số sản phẩm phi nông nghiệp mà các Thành viên ASEAN đưa vào EHP trong Danh mục bao gồm (Inclusion List). Danh mục bao gồm do từng Thành viên ASEAN và Trung Quốc thỏa thuận trên cơ sở song phương. Việt Nam không đưa sản phẩm nào vào Danh mục bao gồm để được hưởng lợi về cắt giảm thuế trước ngày Hiệp định TIG bắt đầu hiệu lực. Đây là một điểm thiệt cho Việt Nam, nhưng có lẽ do bối cảnh và mục tiêu đàm phán lúc đó (không có thông tin về việc này) hoặc là sự nhân nhượng lẫn nhau. Dù sao, điều này về mặt thương mại là giá trị tiêu cực (mở cửa thị trường cho Trung Quốc) và không có giá trị tích cực (bảo hộ cho ngành trong nước). EHP cho phép các sản phẩm của ASEAN thuộc Chương 1-8 HS xuất khẩu sang Trung Quốc được hưởng mức thuế ưu đãi trong khi không phải tất cả các sản phẩm của Trung Quốc thuộc các chương này xuất khẩu sang ASEAN đều được hưởng ưu đãi. Ngoài ra, Trung Quốc còn nhân nhượng về một số loại sản phẩm phi nông nghiệp thông qua Danh mục bao gồm. Trên thực tế, các Thành viên ASEAN được hưởng lợi lớn từ EHP vì Chương trình này cho phép các sản phẩm của ASEAN được xuất khẩu sang Trung Quốc với mức thuế ưu đãi trước khi Hiệp định TIG được hoàn tất đàm phán. EHP cũng lập ra 1 bộ quy tắc xuất xứ tạm thời.Bộ quy tắc này được thay thế bởi bộ quy tắc chính thức quy định tại Hiệp định TIG. Một số quy tắc xuất xứ chính thức thuộc Hiệp định TIG sau này phản ánh nội dung của bộ quy tắc tạm thời, như chỉ ra dưới đây. Kể từ ngày ký kết Hiệp định khung, Trung Quốc đồng ý đối xử tối huệ quốc theo quy tắc WTO cho tất cả các Thành viên ASEAN không phải là thành viên của WTO. Đến nay Lào là Thành viên ASEAN duy nhất chưa phải là thành viên WTO (vào thời điểm ký kết Hiệp định khung cả Campuchia, Lào và Việt Nam đều chưa phải là Thành viên WTO). Cách đặt từ ngữ (wording) của điều khoản này có thể được diễn giải như sau: (i) Trung Quốc có nghĩa vụ đối xử MFN cho Lào, khác với đối xử ưu đãi theo ACFTA cho các Thành viên ASEAN khác; hoặc (ii) Trung Quốc có nghĩa vụ đối xử MFN cho Lào trong mọi nội dung thương mại ngoài phạm vi điều chỉnh của ACFTA. Nếu cách diễn giải thứ nhất là đúng thì điều này là sự phân biệt đối xử nghiêm trọng đối với Lào, đồng thời không phù hợp với mục tiêu của ACFTA và ảnh hưởng đến quyền lợi của các Thành viên ASEAN khác trong trường hợp doanh nghiệp của các Thành viên này đầu tư vào Lào trong các lĩnh vực sản xuất, chế biến, dịch vụ vì các doanh nghiệp này sẽ không được hưởng đối xử ưu đãi theo ACFTA trong thương mại với Trung Quốc. Giả định này cho thấy cách diễn giải thứ nhất sẽ không phải là cách diễn giải được áp dụng, tuy nhiên hữu ích cho mục đích phân tích đầy đủ về mặt định tính lời văn của Hiệp định ACFTA. Theo cách diễn giải thứ hai, Trung Quốc phải dành cho Lào đối xử MFN trong các lĩnh vực thương mại không thuộc phạm vi của ACFTA. Nghĩa vụ này sẽ tạo ra sự bình đẳng cho Lào cũng như cho các Thành viên ASEAN khác trong các lĩnh vực không hoặc chưa thuộc phạm vi điều chỉnh của ACFTA. Trên thực tế, ACFTA điều chỉnh quan hệ thương mại trong các lĩnh vực cụ thể đã nêu còn nguyên tắc MFN của WTO áp dụng đối với mọi lĩnh vực thương mại khác ngoài phạm vi ACFTA. Cách diễn giải này cho phép Lào được hưởng lợi từ việc áp dụng MFN cũng như các Thành viên ASEAN khác là thành viên của WTO. Công ước Vienna về Luật đối với các Hiệp định quy định các hiệp định phải được diễn giải theo “tinh thần trung thực phù hợp nghĩa thông thường của các thuật ngữ trong hiệp định xét theo bối cảnh và mục tiêu của hiệp định”. Nghĩa vụ MFN của Trung Quốc cần được diễn giải theo hướng mở rộng đối xử MFN cho Lào đối với các lĩnh vực không thuộc phạm vi của ACFTA (nghĩa là cách diễn giải thứ hai nêu ở trên). Cách diễn giải này được khẳng định qua lộ trình tự do hóa thuế quan theo Hiệp định TIG, theo đó, “các mức thuế MFN áp dụng” của Trung Quốc (trong Biểu cam kết WTO của nước này) được chọn làm cơ sở để bắt đầu cắt giảm thuế. Điều 10 Hiệp định khung quy định các trường hợp loại trừ chung, cho phép các Bên được vận dụng các biện pháp không phù hợp với điều khoản của Hiệp định khung vì các mục đích an ninh quốc gia, bảo vệ các đồ vật có giá trị nghệ thuật, lịch sử hoặc khảo cổ hoặc các biện pháp mà các Bên thấy cần thiết vì đạo đức công cộng, bảo vệ sức khỏe con người, động thực vật, với điều kiện các biện pháp này không được áp dụng một cách tùy tiện hoặc gây ra sự phân biệt đối xử không chính đáng đối với các Bên khác trong cùng điều kiện hoặc nhằm hạn chế thương mại giữa các Bên một cách trá hình. Xem xét điều khoản tương tự (điều khoản loại trừ chung) trong Hiệp định về Thương mại hàng hóa, Hiệp định về Thương mại dịch vụ và Hiệp định về Đầu tư thuộc ACFTA cho thấy dường như việc áp dụng điều khoản loại trừ chung trên thực tế chỉ hạn chế ở chương trình EHP và các biện pháp nêu tại Phần 2 Hiệp định khung (về hợp tác kinh tế trong nhiều lĩnh vực khác). Quy định này được bổ trợ bằng Điều 6.3.d. Hiệp định khung, theo đó các quy định tương ứng của WTO về việc sửa đổi cam kết, tự vệ, biện pháp khẩn cấp và biện pháp phòng vệ thương mại khác (kể cả các biện pháp chống bán phá giá và đối kháng) áp dụng cho các sản phẩm thuộc phạm vi của chương trình EHP, sẽ ngừng áp dụng và được thay thế bởi các quy định của Hiệp định TIG. Quy định này đảm bảo sự nhất quán giữa cơ chế loại trừ chỉ áp dụng đối với các sản phẩm thuộc phạm vi EHP và cơ chế thuộc Hiệp định TIG. Nguồn: Dự án EU-Vietnam MUTRAP III Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|
BÀI CÙNG CHUYÊN MỤC
Nguồn ảnh: Internet
Từ các phân tích, đánh giá tác động quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam trong 10 năm qua và một số xu hướng chính sách thương mại quốc tế gần đây trong bài viết trước, bài viết này xin đưa ra một số hàm ý chính sách ứng phó sau đây:Các chính sách ứng phó trong ngắn hạn:(i) Mặc dù nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng chiếm tỷ...

